Trang Tử – Nam Hoa Kinh: Nếu cả đời chỉ cố trở thành người “có ích”, ta có bỏ quên điều gì không?
Vua Sở từng sai hai vị đại phu đến mời Trang Tử ra làm quan. Khi ấy, ông đang câu cá bên sông Bộc. Thay vì lập tức nhận lời trước cơ hội mà phần lớn người đời khó từ chối, Trang Tử kể cho họ nghe chuyện một con rùa thần.
Con rùa ấy đã chết từ lâu, mai được bọc gấm, cất trong rương và đặt trang trọng trong miếu thờ. Trang Tử hỏi hai vị đại phu: nếu được lựa chọn, con rùa sẽ muốn chết để được tôn quý như thế, hay muốn sống và kéo đuôi trong bùn?
Hai người đáp rằng tất nhiên nó muốn sống trong bùn. Trang Tử bảo họ cứ trở về. Ông cũng thích “lết cái đuôi trong bùn” hơn.
Một câu chuyện ngắn, nhưng gần như đã chứa cả con người Trang Tử.
Địa vị mà người khác ao ước, ông xem như một thứ ràng buộc. Danh tiếng mà người đời cố giữ, ông không cho là đáng đổi để mất tự do. Một cuộc sống bị coi là nhỏ bé, nghèo khó nhưng còn được sống theo ý mình, với ông có khi đáng giá hơn một đời vẻ vang trong chiếc khung người khác dựng sẵn.
Khi lật giở từng trang cuốn Trang Tử – Nam Hoa Kinh, người đọc liên tục bị kéo trở lại những câu hỏi rất gần với chính mình: Ta đang sống với điều mình thực sự coi trọng, hay đang chạy theo một thước đo mà xã hội đã chọn hộ? Những thứ ta gọi là thành công, hữu dụng, đúng đắn liệu có tuyệt đối như ta tưởng? Và con người phải bớt đi bao nhiêu ham muốn, định kiến, hơn thua thì mới thực sự có được tự do?
Cái cây vô dụng và câu hỏi khó chịu về thứ chúng ta gọi là “giá trị”
Trong Nhân gian thế, Trang Tử kể chuyện một người thợ mộc gặp một cây lớn đến mức người qua đường đều phải ngước nhìn. Nhưng ông thợ chẳng buồn để ý, vì xét theo tiêu chuẩn nghề mộc, cây ấy gần như chẳng dùng được vào việc gì.
Gỗ làm thuyền thì chìm, làm quan tài thì mau mục, làm đồ dùng thì dễ hỏng. Nó trở thành một cái cây “vô dụng”. Nhưng chính vì vô dụng nên nó mới sống được lâu đến thế. Những cây thẳng thường bị chặt lấy gỗ. Cây ăn quả bị bẻ cành vì có trái. Còn cái cây mà người ta chẳng khai thác được gì lại có thể đứng yên, lớn lên và sống hết tuổi trời.
Đây là một trong những nghịch lý đặc sắc nhất trong tư tưởng Trang Tử: “hữu dụng” chưa chắc đã hoàn toàn tốt, và “vô dụng” chưa chắc đã hoàn toàn vô giá trị.
Chúng ta hôm nay cũng rất quen với việc đo con người bằng công dụng. Một công việc phải sinh ra tiền. Một kỹ năng phải giúp thăng tiến. Một mối quan hệ phải đem lại giá trị. Một ngày nghỉ cũng nên “tận dụng” để học thêm thứ gì đó. Ngay cả đọc sách, đi bộ, ngồi yên hay dành thời gian cho một sở thích cũng dễ bị hỏi xem cuối cùng nó giúp ích được gì.
Trang Tử đảo ngược câu hỏi ấy. Nếu mọi thứ đều phải chứng minh công dụng thì con người còn bao nhiêu khoảng trống để đơn giản là sống?
Tất nhiên, Trang Tử không chủ trương rằng con người nên trở thành vô dụng. Học giả Nguyễn Hiến Lê khi nhận định những câu chuyện này cũng đặt tư tưởng ấy trong bối cảnh Trang Tử sống giữa thời đại loạn lạc, nơi người có tài rất dễ bị quyền lực kéo vào những cuộc tranh đoạt. “Vô dụng” vì vậy còn là cách giữ thân, giữ tính và tránh để đời sống của mình bị người khác sử dụng vào mục đích của họ.
Nhưng đem câu chuyện ấy về hiện tại, nó vẫn đặt ra một câu hỏi đáng nghĩ: Có những thứ nào trong cuộc đời mà ta đang vội vứt bỏ chỉ vì chúng không tạo ra thành tích ngay lập tức? Một buổi chiều không làm gì có thể chẳng tạo ra tiền, nhưng lại trả cho ta sự bình yên. Một sở thích không giúp thăng chức, vẫn có thể làm đời sống phong phú hơn. Một người không giỏi cạnh tranh chưa chắc đã ít giá trị hơn người liên tục thắng.
Trang Tử cho chúng ta thấy nhiều lớp nghĩa của hai chữ “có ích”.
Trang Tử không cho chúng ta đứng yên ở một cách nhìn
Nếu câu chuyện về cái cây làm đảo lộn khái niệm hữu dụng, thì Tề vật luận đi xa hơn khi liên tục chất vấn những ranh giới mà con người vẫn tưởng là chắc chắn.
Phải – trái, đẹp – xấu, lớn – nhỏ, đúng – sai nhiều khi phụ thuộc vào vị trí người nhìn.
Trang Tử và Huệ Tử từng tranh luận trên cầu sông Hào. Trang Tử thấy cá bơi thong dong và nói đó là niềm vui của cá. Huệ Tử lập tức hỏi: "Ông đâu phải cá, làm sao biết cá vui?"
Trang Tử hỏi ngược lại: "Ông cũng đâu phải tôi, sao biết tôi không biết cái vui của cá?"
Đằng sau cuộc đấu khẩu có vẻ hài hước ấy là một vấn đề mà Trang Tử trở đi trở lại rất nhiều lần: Chúng ta thường lấy giới hạn hiểu biết của mình làm giới hạn của thế giới. Ta quen với một tiêu chuẩn rồi tưởng đó là tiêu chuẩn duy nhất. Ta đứng ở một vị trí rồi tin rằng điều mình thấy chính là toàn bộ sự thật.
Bởi vậy, Trang Tử đặc biệt dè chừng sự tranh biện chỉ nhằm phân thắng bại. Nguyễn Hiến Lê nhận xét rằng, Trang Tử cho việc tranh luận rất khó đưa đến chân lý, vì mỗi bên thường mang thiên kiến của mình vào cuộc rồi tìm cách thắng bên kia.
Điểm này khiến Nam Hoa Kinh vẫn còn rất hợp thời.
Trong một thời đại mà con người có thể dành hàng giờ để chứng minh người khác sai trên mạng xã hội, Trang Tử khiến chúng ta suy ngẫm bằng câu hỏi: Thắng được cuộc tranh luận rồi, liệu ta đã gần sự thật hơn chưa?
Điều đáng quý ở bản Trang Tử - Nam Hoa Kinh của Nguyễn Hiến Lê
Trang Tử – Nam Hoa Kinh vốn không phải một tác phẩm dễ đọc. Văn bản được truyền lại qua một lịch sử rất dài, nhiều thiên có vấn đề về tác giả, nhiều câu nghĩa tối và các nhà chú giải không phải lúc nào cũng thống nhất. Dĩ nhiên, Nguyễn Hiến Lê không che đi sự phức tạp ấy.
Ngay phần đầu, ông dành nhiều công sức dựng lại bối cảnh thời Chiến Quốc, cuộc đời và tính cách của Trang Tử. Ông khảo sát vấn đề chân ngụy của các thiên, phân biệt tương đối rõ giữa Nội thiên với Ngoại thiên, Tạp thiên, đồng thời cho rằng nhiều phần có khả năng chịu sự thêm thắt của môn đồ hoặc người đời sau.
Khi dịch, ông cũng không cố tạo cảm giác rằng mọi câu đều có một nghĩa duy nhất. Với những đoạn khó, ông đối chiếu nhiều cách hiểu, nhiều bản chú giải và nói rõ vì sao mình chọn một cách dịch nào đó. Có chỗ ông thừa nhận nghĩa còn tối hoặc khó xác định chắc chắn.
Cách làm này rất quan trọng.
Người đọc không chỉ được tiếp xúc với Trang Tử, mà còn được chứng kiến một học giả Việt Nam đọc Trang Tử bằng thái độ vừa trân trọng, vừa tỉnh táo. Không thần thánh hóa, không cố làm cho tư tưởng cổ trở nên huyền bí hơn cần thiết. Nhờ đó, những câu chuyện về cá Côn, chim Bằng, cái cây vô dụng, người đầu bếp mổ bò, Trang Chu mộng bướm hay cuộc tranh luận về niềm vui của cá không chỉ còn là những điển tích để nhớ. Chúng trở thành những cách khác nhau để thử nhìn lại đời sống của chính mình.
Ai nên đọc Trang Tử – Nam Hoa Kinh?
Cuốn sách phù hợp với người quan tâm đến triết học phương Đông, Đạo gia và các trước tác kinh điển; người yêu thích cách khảo cứu và dịch thuật của Nguyễn Hiến Lê; hoặc đơn giản là những người đã bắt đầu thấy mệt với đời sống luôn bị đo bằng thành tích, tốc độ và sự hữu dụng.
Người làm quản lý, kinh doanh hay những công việc chịu nhiều áp lực cũng có thể tìm thấy ở Trang Tử một đối trọng thú vị. Ông không đưa ra các công thức để đạt được nhiều hơn. Ông thường hỏi ngược lại xem có những thứ nào ta đang cố đạt đến, nhưng thực ra không đáng để đánh đổi tự do, sự bình thản hay chính mình.
Đây không phải một cuốn sách nên đọc vội để tìm vài câu “triết lý sống”. Trang Tử - Nam Hoa Kinh thú vị nhất ở những chỗ ban đầu nghe có vẻ vô lý: Một cái cây vô dụng lại sống lâu. Một người què lại được kính trọng. Một đầu bếp nói về Đạo qua việc mổ bò. Một con bướm khiến người ta nghi ngờ cả ranh giới giữa mộng và thực. Cứ đọc thêm một câu chuyện, thước đo quen thuộc lại bị xê dịch một chút.
Và có lẽ đó chính là giá trị bền nhất của Trang Tử - Nam Hoa Kinh: ông không đưa ra một khuôn mẫu để ta sống theo; ông khiến ta tự hỏi: Những điều bản thân đang theo đuổi là do mình thật sự lựa chọn, hay chỉ vì đã quen sống theo kỳ vọng của người khác?
Một vài câu hỏi thường gặp về Trang Tử – Nam Hoa Kinh
Trang Tử – Nam Hoa Kinh nói về điều gì?
Tác phẩm bàn tới nhiều vấn đề như tự do, đời sống thuận tự nhiên, hữu dụng và vô dụng, cách nhìn phải – trái, sinh tử, sự biến hóa của vạn vật, cách con người giữ mình giữa một xã hội nhiều tranh đoạt. Trong phần Nội thiên, các tư tưởng này được thể hiện qua những thiên nổi tiếng như Tiêu dao du, Tề vật luận, Dưỡng sinh chủ, Nhân gian thế, Đức sung phù và Đại tôn sư.
“Tiêu dao” trong Trang Tử có phải là sống buông xuôi, không làm gì?
Không nên hiểu đơn giản như vậy. Qua phần phân tích của Nguyễn Hiến Lê, “tiêu dao” gắn với trạng thái tự do, không để bản thân bị trói buộc bởi danh lợi, ngoại vật và những tiêu chuẩn bên ngoài. Câu chuyện Trang Tử từ chối chức tước để giữ đời sống tự do là biểu hiện rất rõ của tinh thần này.
Tại sao Trang Tử lại đề cao cái “vô dụng”?
Trang Tử dùng nhiều câu chuyện để cho thấy thứ được xem là hữu dụng thường bị khai thác, tiêu hao hoặc ràng buộc bởi chính công dụng của nó. “Vô dụng” trong những câu chuyện ấy không đồng nghĩa với vô giá trị; đôi khi nó tạo ra khoảng tự do để một vật hoặc một con người được tồn tại theo bản tính của mình.
Bản biên dịch của cụ Nguyễn Hiến Lê có phù hợp với người mới đọc Trang Tử không?
Có lợi thế ở chỗ Nguyễn Hiến Lê dành phần đầu để giới thiệu thời đại, cuộc sống, tác phẩm và những nét chính trong học thuyết của Trang Tử. Trong phần dịch, ông thường giải thích thuật ngữ, đối chiếu cách hiểu và có phần nhận định sau nhiều chương. Tuy nhiên, đây vẫn là một tác phẩm triết học cổ nên phù hợp với cách đọc chậm hơn là đọc lướt.
Cuốn sách phù hợp với người đọc hiện đại ở điểm nào?
Những câu hỏi Trang Tử đặt ra vẫn rất gần với đời sống hôm nay: con người có nhất thiết phải luôn hữu dụng, thành công theo thước đo bên ngoài hay không; vì sao ta quá tin vào góc nhìn của mình; đâu là giới hạn giữa cố gắng và cưỡng ép; và làm thế nào để giữ được sự tự do nội tâm khi sống giữa vô số đòi hỏi từ bên ngoài. Chính những câu hỏi ấy khiến Trang Tử - Nam Hoa Kinh vượt xa giá trị của một tác phẩm chỉ để nghiên cứu lịch sử triết học.








































































